Thứ Năm, 2 tháng 2, 2017

Xử phạt thế nào khi doanh nghiệp chậm trả lương cho người lao động

Nếu thời gian trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì phải trả thêm một khoản tiền ít nhất bằng số tiền trả chậm nhân với lãi suất trần huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương. luat su tu van phap luat Khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không quy định trần lãi suất thì được tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng của ngân hàng thương mại, nơi doanh nghiệp, cơ quan mở tài khoản giao dịch thông báo tại thời điểm trả lương. Theo Nghị định 05 của Chính phủ, bắt đầu từ ngày 1-3, doanh nghiệp chậm trả lương cho người lao động quá 15 ngày sẽ phải trả thêm tiền lãi và bị xử phạt. Tuy nhiên, để thực hiện điều này cũng không phải là điều dễ dàng. Nghị định 05/2015/NĐ-CP có hiệu lực từ 1-3-2015 quy định Người sử dụng lao động trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì phải trả thêm một khoản tiền ít nhất bằng số tiền trả chậm nhân với lãi suất trần huy động tiền gửi có kỳ hạn 1 tháng do NHNN công bố tại thời điểm trả lương. Trường hợp đặc biệt do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng lao động thì không được trả chậm quá 1 tháng.





Thông qua hệ thống tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến nếu vấn đề của quý khách hàng chưa thể được giải quyết hoặc quý khách hàng không thể tự giải quyết được chúng tôi sẽ cử Luật sư hỗ trợ trực tiếp dù quý khách hàng ở bất kỳ nơi đâu. Như vậy kể cả trường hợp đặc biệt, người sử dụng lao động trả lương chậm quá 1 tháng sẽ bị xử phạt mức tiền trên. Chậm lương đối với 1 đến 10 lao động, phạt 5 triệu đồng. luat su tham gia to tung Chậm lương đối với trên 300 lao động, phạt 50 triệu đồng. Phạt 10 triệu đến 20 triệu nếu sử dụng lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi làm thêm giờ, làm ban đêm hoặc đi công tác xa. Sẽ phạt mức tương tự nếu không cho lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi nghỉ 60 phút/ngày, Sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với lao động nữ vì có thai, kết hôn, nghỉ thai sản, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.





Điều 41 nghị định số 127/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội không được tính để hưởng trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về cán bộ, công chức. Thời gian người lao động thực tế làm việc theo các bản hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với người sử dụng lao động mà không phải đóng bảo hiểm thất nghiệp thì được tính để xét hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật lao động hiện hành. luat su tu van phap luat (Khi chấm dứt HĐLĐ đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ đủ 12 tháng trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương, nếu có - điều 42 BLLĐ). Căn cứ theo quy định pháp luật nêu trên, nếu trong thời gian bạn làm việc từ tháng 7-2009 đến nay bạn có đóng bảo hiểm thất nghiệp thì khi bạn đơn phương chấm dứt HĐLĐ bạn được hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội. Còn nếu trường hợp thời gian bạn làm việc từ tháng 7-2009 đến nay bạn không có đóng bảo hiểm thất nghiệp, thì khi bạn đơn phương chấm dứt HĐLĐ bạn được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật lao động.


Quý khách có nhu cầu tư vấn luật
vui lòng liên hệ văn phòng luật sư Bình Tân
Hotline: 0908 29 26 04

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Người đóng góp cho blog